Trong lịch sử phát triển của nhân loại, những cuộc cạnh tranh khốc liệt nhất không chỉ diễn ra trên lĩnh vực kinh tế hay quân sự, mà sâu xa hơn là cuộc cạnh tranh về hệ tư tưởng và niềm tin xã hội. Với Việt Nam, nền tảng tư tưởng của Đảng – được hình thành từ chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh – chính là “trục định hướng” bảo đảm cho sự ổn định chính trị, thống nhất ý chí và phát triển bền vững của đất nước. Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ, không gian mạng đã trở thành một “mặt trận không biên giới”, nơi các luồng thông tin đa chiều đan xen, thật – giả khó phân định, tạo ra những thách thức chưa từng có đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng. Điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết không chỉ dừng lại ở việc “giữ vững” mà còn phải chủ động “kiến tạo và dẫn dắt” hệ giá trị, củng cố niềm tin xã hội. Vì vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới không chỉ là nhiệm vụ chính trị trọng yếu, mà còn là sứ mệnh mang tính thời đại, đòi hỏi sự vào cuộc mạnh mẽ, bản lĩnh và sáng tạo, đặc biệt từ thế hệ trẻ – những chủ thể đang trực tiếp sống và định hình tương lai của không gian số.
Việc nhận thức đầy đủ, toàn diện và làm sáng tỏ bản chất của chủ nghĩa xã hội cũng như con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về mặt tư tưởng và lý luận. Đây không chỉ là cơ sở khoa học vững chắc để phản bác một cách thuyết phục, sắc bén và có tính chiến đấu cao đối với các luận điệu sai trái, thù địch, mà còn góp phần củng cố, bồi đắp niềm tin của nhân dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đối với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, đó cũng là nền tảng để phát huy sức mạnh tổng hợp của dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại, giúp đất nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức, hiện thực hóa khát vọng phát triển phồn vinh, hạnh phúc, từng bước tiến tới mục tiêu cao đẹp “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Chủ nghĩa xã hội, xét về bản chất, là một hình thái xã hội tiến bộ do C.Mác xây dựng trên cơ sở nghiên cứu sâu sắc các quy luật vận động và phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử nhân loại. Đó là một chế độ xã hội mà theo quan điểm của C.Mác, “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” [1]. Chính vì vậy, ngay từ thế kỷ XIX, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định chủ nghĩa xã hội là “tương lai của nhân loại”. Trên nền tảng kế thừa và phát triển những tư tưởng đó, V.I.Lênin đã vận dụng sáng tạo vào thực tiễn nước Nga, lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng Mười, mở ra một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử, đưa chủ nghĩa xã hội từ một học thuyết lý luận, từ một lý tưởng mang tính khát vọng trở thành hiện thực sinh động trên phạm vi thế giới.
Tiếp nối dòng chảy tư tưởng ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, đi đến kết luận mang tính lịch sử rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập dân tộc, mang lại cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc thực sự cho nhân dân. Vì vậy, ngay từ khi ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định niềm tin vào con đường xã hội chủ nghĩa, khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.
Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam không phải là sự lựa chọn ngẫu nhiên mà là kết quả của cả một quá trình lịch sử tất yếu, được xác lập dứt khoát từ năm 1930 khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời dưới sự sáng lập và rèn luyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngay từ đầu, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đã trở thành nguyên tắc xuyên suốt, là sợi chỉ đỏ dẫn dắt toàn bộ đường lối cách mạng của Đảng. Độc lập dân tộc là tiền đề tiên quyết để xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Con đường này tất yếu phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế - xã hội đan xen, là quá trình cải biến sâu sắc, toàn diện, mang tính cách mạng triệt để, gắn liền với cuộc đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới, nhằm tạo ra sự chuyển biến về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội nước ta.
Để xác định đúng đắn con đường phát triển ấy, không chỉ cần nhận diện chính xác xu thế vận động của lịch sử và mục tiêu cần đạt tới, mà còn phải xây dựng được mô hình cụ thể, phản ánh đầy đủ đặc trưng của chủ nghĩa xã hội Việt Nam, đồng thời kết tinh được những giá trị truyền thống của dân tộc và tinh hoa của thời đại. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, đặc biệt qua việc bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm 2011, Đảng ta đã xác định rõ những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới".
Trong tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tiếp tục khẳng định những giá trị bền vững của chủ nghĩa xã hội, đồng thời cung cấp một hệ thống lý luận sâu sắc, có tính định hướng cao, góp phần củng cố thế giới quan khoa học, truyền cảm hứng và khơi dậy niềm tin cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Với lập luận chặt chẽ, dựa trên tổng kết thực tiễn phong phú của cách mạng Việt Nam và bối cảnh quốc tế, đồng chí đã khẳng định một cách khoa học rằng con đường xã hội chủ nghĩa là con đường duy nhất đúng đắn để phát triển đất nước. Đồng thời nhấn mạnh rằng dân tộc Việt Nam đã trải qua quá trình đấu tranh gian khổ, hy sinh để giành và giữ độc lập, và chỉ có con đường gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm cho mục tiêu tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân được hiện thực hóa một cách bền vững.
Thực tiễn gần 40 năm đổi mới đã chứng minh tính đúng đắn và sức sống mạnh mẽ của con đường đó. Những thành tựu đạt được là kết quả của quá trình nỗ lực bền bỉ, sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân qua nhiều nhiệm kỳ. Điều đó tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo; vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, không có bất kỳ lực lượng chính trị nào có thể thay thế.
Khát vọng phát triển chính là động lực tinh thần mạnh mẽ thúc đẩy con người và dân tộc vươn lên. Đó là sự mong muốn bền bỉ, sâu sắc, gắn liền với ý chí và trách nhiệm, thôi thúc con người hành động để đạt tới mục tiêu. Khát vọng không chỉ là trạng thái tinh thần mà còn là nguồn năng lượng nội sinh, khi được định hướng đúng đắn sẽ trở thành sức mạnh to lớn cho sự phát triển. Khát vọng dân tộc phản ánh ước vọng chung của cộng đồng và chịu sự chi phối của điều kiện lịch sử cụ thể, nhưng khi được dẫn dắt bởi đường lối đúng đắn, nó sẽ trở thành nguồn lực chiến lược cho sự phát triển lâu dài.
Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngừng khơi dậy và nuôi dưỡng khát vọng phát triển đất nước. Khát vọng ấy trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt, là nguồn lực tinh thần để phát huy nội lực, tận dụng ngoại lực, giúp đất nước vượt qua thử thách và đạt được những thành tựu mang ý nghĩa lịch sử.
Trên cơ sở của những thành tựu to lớn đó, cùng với cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được khẳng định và lan tỏa, tại Đại hội lần thứ XIII, Đảng ta đã cụ thể hóa khát vọng phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay là phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc với những mục tiêu cụ thể:
- Đến năm 2025: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp.
- Đến năm 2030: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao.
- Đến năm 2045: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Trên nền tảng đó, Đại hội XIII của Đảng đã cụ thể hóa khát vọng phát triển bằng những mục tiêu rõ ràng đến năm 2025, 2030 và 2045, hướng tới xây dựng một Việt Nam phát triển, thu nhập cao. Nghị quyết Đại hội XIII khẳng định: “Khơi dậy tinh thần và ý chí, quyết tâm phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; dân tộc cường thịnh, trường tồn; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Đảng ta xác định, từ Đại hội XIV trở đi, đất nước ta sẽ chính thức bước vào kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Theo đó, kỷ nguyên mới đòi hỏi phải tạo chuyển biến căn bản về nhận thức, hành động của toàn Đảng, toàn xã hội trong việc giữ gìn, nuôi dưỡng, sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực của đất nước. Đặc biệt, kỷ nguyên mới đòi hỏi phải phát huy cao nhất tinh thần, ý chí, sức mạnh của nhân dân - Chủ thể đóng vai trò trung tâm của sự nghiệp kiến tạo kỷ nguyên mới. Đây “là kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đích đến của kỷ nguyên vươn mình là dân giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu. Mục tiêu của kỷ nguyên mới là sự tích hợp ở tầm cao mới, trình độ mới, phản ánh sự phát triển về chất của mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, của sự vận động biện chứng độc lập - tự do - hạnh phúc. Kỷ nguyên mới đặt ra những yêu cầu lịch sử đặc biệt, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cần nhận thức sâu sắc, quyết tâm, quyết liệt hành động để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, mỗi giai đoạn đều hình thành những “không gian đấu tranh” đặc trưng. Nếu trước đây, mặt trận tư tưởng chủ yếu tồn tại trong sách báo, diễn đàn học thuật hay các phương tiện truyền thông truyền thống, thì ngày nay, với sự bùng nổ của công nghệ số, không gian mạng đã trở thành một “mặt trận không biên giới”, nơi mọi tư tưởng, quan điểm, giá trị đều có thể được lan truyền với tốc độ chưa từng có. Sự thay đổi này không chỉ làm biến đổi phương thức tiếp cận thông tin của con người mà còn làm thay đổi căn bản cách thức hình thành, củng cố và thậm chí là lung lay niềm tin xã hội. Chính trong bối cảnh đó, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đứng trước những thách thức mới, phức tạp và tinh vi hơn bao giờ hết.
Không gian mạng, với đặc trưng mở, đa chiều và phi tập trung, đã xóa nhòa mọi ranh giới địa lý, tạo điều kiện cho thông tin được lan tỏa nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu. Tuy nhiên, chính tính chất “không biên giới” này lại trở thành mảnh đất thuận lợi để các thế lực thù địch gia tăng hoạt động chống phá. Nếu như trước đây, việc truyền bá các quan điểm sai trái còn bị giới hạn bởi không gian và phương tiện, thì hiện nay, chỉ với một thiết bị kết nối internet, bất kỳ ai cũng có thể trở thành “người phát tán thông tin”, bất kể đúng sai. Điều này khiến cho mặt trận tư tưởng trở nên phức tạp hơn, khi ranh giới giữa thông tin chính thống và thông tin sai lệch ngày càng trở nên mong manh, khó phân định.
Các thế lực thù địch đã nhanh chóng tận dụng lợi thế của công nghệ để triển khai nhiều thủ đoạn tinh vi nhằm chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng. Một trong những phương thức phổ biến là xuyên tạc sự thật, bóp méo bản chất của các vấn đề chính trị - xã hội, từ đó làm sai lệch nhận thức của người tiếp nhận. Không dừng lại ở đó, chúng còn sử dụng chiến thuật “tẩy trắng – bóp méo – giật gân hóa” nhằm đánh vào tâm lý tò mò, hiếu kỳ của người dùng mạng, đặc biệt là giới trẻ. Những thông tin được cắt ghép, dàn dựng, thậm chí bịa đặt hoàn toàn, nhưng được trình bày dưới hình thức hấp dẫn, dễ lan truyền, đã khiến không ít người rơi vào trạng thái “tiếp nhận thụ động”, thiếu kiểm chứng, từ đó dần hình thành những nhận thức lệch lạc.
Đáng chú ý, trong chiến lược chống phá của các thế lực thù địch, thanh niên luôn được xác định là đối tượng trọng điểm. Đây là lực lượng năng động, sáng tạo, nhanh nhạy với công nghệ, nhưng đồng thời cũng là nhóm dễ bị tác động bởi các luồng thông tin đa chiều nếu thiếu nền tảng lý luận vững chắc. Trong môi trường mạng, thanh niên thường xuyên tiếp xúc với lượng thông tin khổng lồ, trong đó có không ít nội dung mang tính định hướng sai lệch. Khi chưa có đủ kỹ năng phân tích, đánh giá và sàng lọc thông tin, một bộ phận thanh niên có thể bị cuốn theo những quan điểm lệch lạc, thậm chí vô tình tiếp tay cho việc lan truyền thông tin sai trái.
Không chỉ dừng lại ở việc tác động đến nhận thức, các thế lực thù địch còn tìm cách làm suy giảm niềm tin của thanh niên đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Chúng khai thác triệt để những vấn đề tiêu cực trong xã hội, thổi phồng, quy chụp, từ đó tạo ra tâm lý hoài nghi, bi quan. Nguy hiểm hơn, chúng từng bước dẫn dắt người tiếp nhận đi đến phủ nhận những giá trị cốt lõi, xa rời lý tưởng cách mạng, dẫn đến nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đây chính là hình thức chống phá tinh vi, không ồn ào nhưng có sức ảnh hưởng lâu dài, bởi nó tác động trực tiếp vào nhận thức và niềm tin – những yếu tố nền tảng của mỗi cá nhân và của toàn xã hội.
Bên cạnh đó, sự phát triển của các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, deepfake, thuật toán đề xuất nội dung… càng làm cho cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng trở nên phức tạp hơn. Những video giả mạo, những bài viết được tạo ra bằng công nghệ có thể khiến người xem khó phân biệt thật – giả. Các thuật toán mạng xã hội lại có xu hướng “cá nhân hóa” nội dung, khiến người dùng dễ bị “nhốt” trong những “buồng vang thông tin” (echo chamber), nơi họ chỉ tiếp cận với những quan điểm giống mình, từ đó làm gia tăng sự cực đoan và lệch lạc trong nhận thức. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao “sức đề kháng tư tưởng” cho mỗi cá nhân, đặc biệt là thế hệ trẻ.
Nếu như trong các giai đoạn trước, nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng chủ yếu được hiểu theo nghĩa “giữ vững”, “đấu tranh phản bác” các quan điểm sai trái, thì trong bối cảnh kỷ nguyên số hiện nay, cách tiếp cận đó đã không còn đủ. Thực tiễn cho thấy, trong một không gian mạng vận động liên tục, nơi thông tin lan truyền theo cấp số nhân và niềm tin xã hội có thể bị tác động chỉ trong thời gian rất ngắn, việc chỉ dừng lại ở thế “phòng thủ” là chưa đủ để giữ vững trận địa tư tưởng. Điều cần thiết hơn, mang tính chiến lược và lâu dài, chính là chuyển từ tư duy “bảo vệ” sang tư duy “kiến tạo” – chủ động xây dựng, định hình và dẫn dắt hệ giá trị, niềm tin xã hội. Đây không chỉ là yêu cầu khách quan của thời đại, mà còn là bước phát triển tất yếu trong nhận thức và hành động của toàn Đảng, toàn dân, đặc biệt là thế hệ trẻ.
Trong môi trường thông tin mở, nơi mỗi cá nhân đều phải đối diện với vô số luồng thông tin đa chiều, thì yếu tố quyết định không nằm ở việc “ngăn chặn thông tin xấu” – điều gần như bất khả thi – mà nằm ở khả năng “tự miễn dịch” của mỗi người trước những thông tin đó. Chính vì vậy, việc xây dựng “sức đề kháng tư tưởng” trở thành yêu cầu cốt lõi, mang tính nền tảng trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
“Sức đề kháng tư tưởng” trước hết được thể hiện ở năng lực tư duy phản biện – khả năng phân tích, đánh giá thông tin một cách độc lập, không bị chi phối bởi cảm xúc nhất thời hay tâm lý đám đông. Trong bối cảnh mạng xã hội thường xuyên xuất hiện những thông tin mang tính giật gân, gây sốc, nếu thiếu đi tư duy phản biện, người tiếp nhận rất dễ rơi vào trạng thái tiếp nhận thụ động, từ đó hình thành những nhận thức lệch lạc. Do đó, việc trang bị cho thanh niên kỹ năng đặt câu hỏi, kiểm chứng nguồn tin, phân tích logic của vấn đề là hết sức cần thiết.
Bên cạnh đó, kỹ năng nhận diện thông tin sai lệch cũng đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Thực tế cho thấy, các thông tin xấu độc ngày nay không còn xuất hiện một cách thô sơ, dễ nhận biết, mà được “ngụy trang” dưới nhiều hình thức tinh vi như cắt ghép hình ảnh, trích dẫn sai ngữ cảnh, sử dụng ngôn từ trung lập nhưng hàm chứa thông điệp tiêu cực. Việc nhận diện được những thủ đoạn này đòi hỏi người tiếp nhận không chỉ có kiến thức mà còn phải có kinh nghiệm và sự tỉnh táo. Khi mỗi cá nhân có đủ “kháng thể tư tưởng”, thì những thông tin sai lệch, dù tinh vi đến đâu, cũng khó có thể xâm nhập và gây ảnh hưởng sâu rộng.
Nếu “sức đề kháng tư tưởng” là yếu tố bên trong, thì việc chiếm lĩnh không gian mạng chính là biểu hiện của sức mạnh bên ngoài. Trong kỷ nguyên số, không gian mạng không chỉ là nơi diễn ra các hoạt động giao tiếp, giải trí, mà còn là nơi hình thành và lan tỏa các giá trị, quan điểm, niềm tin. Do đó, nếu không chủ động chiếm lĩnh, chúng ta sẽ bị lấn át bởi những luồng thông tin tiêu cực.
Chiếm lĩnh không gian mạng trước hết là việc xây dựng và lan tỏa các nội dung chính thống một cách hiệu quả. Tuy nhiên, điều này không thể thực hiện theo lối mòn cũ – khô khan, nặng tính tuyên truyền một chiều – mà phải được đổi mới mạnh mẽ cả về nội dung lẫn hình thức. Nội dung chính thống phải nhanh hơn để không bị “tụt hậu” trước dòng chảy thông tin; phải hấp dẫn hơn để thu hút sự quan tâm của người tiếp nhận; và phải gần gũi hơn để tạo được sự đồng cảm, từ đó lan tỏa sâu rộng trong cộng đồng.
Thực tế cho thấy, những nội dung tích cực, nếu được trình bày bằng hình thức sáng tạo như video ngắn, infographic, storytelling… sẽ có sức lan tỏa rất lớn, đặc biệt trong giới trẻ. Điều này đặt ra yêu cầu phải kết hợp giữa nội dung chính trị – tư tưởng với kỹ năng truyền thông hiện đại, biến những giá trị lý luận trở nên sống động, dễ tiếp cận. Khi nội dung chính thống đủ mạnh, đủ hấp dẫn, nó không chỉ “đối trọng” mà còn có thể “lấn át” những thông tin sai lệch.
Trong toàn bộ quá trình chuyển từ “bảo vệ” sang “kiến tạo”, thanh niên giữ vai trò trung tâm, vừa là đối tượng, vừa là chủ thể. Nếu trước đây, thanh niên chủ yếu được xem là lực lượng “được giáo dục”, “được định hướng”, thì ngày nay, trong kỷ nguyên số, họ phải trở thành lực lượng trực tiếp tham gia vào quá trình kiến tạo và lan tỏa giá trị.
Điều này đòi hỏi một sự thay đổi căn bản trong nhận thức: thanh niên không chỉ “nghe” mà còn phải “nói”; không chỉ “tiếp nhận” mà còn phải “sáng tạo”. Việc viết bài, chia sẻ thông tin tích cực, tham gia phản biện các quan điểm sai trái trên không gian mạng chính là những hành động cụ thể thể hiện vai trò đó. Mỗi bài viết đúng đắn, mỗi bình luận có trách nhiệm, mỗi chia sẻ tích cực đều góp phần nhỏ nhưng quan trọng vào việc định hình dư luận xã hội.
Hình ảnh “chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng số” không còn là khái niệm mang tính biểu tượng, mà đã trở thành một yêu cầu thực tiễn. Người “chiến sĩ” đó không cần phải là chuyên gia lý luận, nhưng cần có bản lĩnh chính trị vững vàng, nhận thức đúng đắn và kỹ năng sử dụng công nghệ. Họ có thể là học sinh, sinh viên, người lao động trẻ – những người đang hiện diện hàng ngày trên không gian mạng và có khả năng tác động đến cộng đồng xung quanh mình.
Một trong những hạn chế dễ gặp trong công tác tư tưởng là sự tách rời giữa lý luận và thực tiễn. Nếu lý luận chỉ dừng lại ở việc “học” mà không được “sống”, “trải nghiệm”, thì khó có thể tạo ra niềm tin bền vững. Do đó, việc kết hợp chặt chẽ giữa học tập lý luận và hành động thực tiễn là yếu tố quyết định để chuyển hóa nhận thức thành hành động.
Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là việc ghi nhớ các nội dung lý luận, mà quan trọng hơn là vận dụng vào đời sống hàng ngày: sống có lý tưởng, có trách nhiệm với cộng đồng, sẵn sàng cống hiến vì lợi ích chung. Khi những giá trị đó được thể hiện qua hành động cụ thể – như tham gia hoạt động tình nguyện, sáng tạo trong học tập và lao động, khởi nghiệp vì cộng đồng – thì chúng sẽ trở nên thuyết phục hơn bất kỳ lời tuyên truyền nào.
Thực tiễn chính là “thước đo” của lý luận. Khi thanh niên thấy rằng những giá trị mà Đảng định hướng không chỉ đúng về mặt lý luận mà còn mang lại hiệu quả thiết thực trong cuộc sống, thì niềm tin sẽ được củng cố một cách tự nhiên và bền vững. Ngược lại, nếu thiếu đi sự gắn kết này, lý luận dễ trở nên xa rời thực tế, khó tạo được sức lan tỏa.
Trong mọi giai đoạn lịch sử, nền tảng tư tưởng luôn là “trụ cột tinh thần” quyết định sự ổn định và phát triển của một quốc gia. Đối với Việt Nam, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là một nhiệm vụ chính trị quan trọng, mà còn là yêu cầu mang tính sống còn, gắn trực tiếp với vận mệnh của dân tộc và tương lai của đất nước. Bước vào kỷ nguyên phát triển mới – kỷ nguyên số, kỷ nguyên của tri thức và công nghệ – nhiệm vụ ấy càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết, đòi hỏi không chỉ sự kiên định về lập trường mà còn sự đổi mới trong tư duy và hành động.
Trong bối cảnh đó, thế hệ trẻ không thể đứng ngoài cuộc, mà phải trở thành lực lượng tiên phong trên mặt trận tư tưởng. Thanh niên hôm nay không chỉ là người kế thừa mà còn là người kiến tạo tương lai, là chủ thể trực tiếp tham gia định hình không gian số, lan tỏa giá trị tích cực và đấu tranh với những biểu hiện sai trái. Điều này càng được khẳng định rõ nét qua khẩu hiệu hành động của Đại hội Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam lần thứ IX: “Thanh niên Việt Nam yêu nước-khát vọng-đoàn kết-tiên phong-sáng tạo, tự tin bước vào kỷ nguyên mới”. Đây không chỉ là lời hiệu triệu, mà còn là định hướng chiến lược, đặt ra yêu cầu mỗi người trẻ phải không ngừng rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao trí tuệ, nuôi dưỡng khát vọng và dám dấn thân vì những giá trị lớn lao của dân tộc.
Giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới, vì thế, không chỉ là nhiệm vụ của riêng ai, mà là sứ mệnh chung của cả một thế hệ. Khi mỗi người trẻ biết biến niềm tin thành hành động, biến lý tưởng thành cống hiến, thì đó chính là lúc nền tảng tư tưởng được bảo vệ vững chắc nhất, không chỉ bằng lời nói mà bằng chính thực tiễn sống động của đời sống xã hội. Và hơn hết, trong hành trình ấy, thông điệp “Giữ vững niềm tin – kiến tạo tương lai – dẫn dắt thời đại” không chỉ là một khẩu hiệu, mà phải trở thành kim chỉ nam cho suy nghĩ và hành động của mỗi thanh niên Việt Nam, để từ đó cùng nhau viết tiếp những trang sử vẻ vang trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, Nxb CTQG-ST, H., 1995, t.19, tr.305
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011).
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 1, tr 302; 206.
Nguồn: lamdong.edu.vn